THỨ SÁU 25/7/2025 11:18
Hỏi:
Công ty chúng tôi là doanh nghiệp có sử dụng người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam và thực hiện khấu trừ, kê khai thuế thu nhập cá nhân (TNCN) theo quy định. Theo quy định tại: Điều 2 Thông tư 111/2013/TT-BTC (đã được sửa đổi, bổ sung) quy định các khoản thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công; Điểm đ.1 khoản 2 Điều 2 Thông tư 111/2013/TT-BTC quy định khoản tiền thuê nhà do người sử dụng lao động trả thay tính vào thu nhập chịu thuế nhưng tối đa không quá 15% tổng thu nhập chịu thuế (chưa bao gồm tiền thuê nhà); Điều 8 Thông tư 111/2013/TT-BTC quy định thời điểm xác định thu nhập chịu thuế là thời điểm tổ chức, cá nhân trả thu nhập hoặc người nộp thuế nhận được lợi ích; Trong thực tế phát sinh, công ty có chi trả thay cho người lao động nước ngoài một số khoản lợi ích cho nhiều tháng hoặc nhiều kỳ làm việc, ví dụ: tiền thuê nhà trả trước nhiều tháng; các khoản chi hộ khác phát sinh một lần nhưng liên quan nhiều kỳ làm việc. Đối với tiền thuê nhà, do bị khống chế 15% tổng thu nhập chịu thuế theo kỳ tính thuế nên công ty thực hiện phân bổ theo từng tháng để xác định thu nhập chịu thuế. Tuy nhiên, đối với các khoản lợi ích khác nêu trên, quy định hiện hành chưa nêu rõ có phải phân bổ theo thời gian sử dụng hay được tính thu nhập chịu thuế tại thời điểm chi trả/ghi nhận lợi ích. Để thực hiện đúng quy định pháp luật thuế TNCN, Công ty kính đề nghị Bộ Tài chính hướng dẫn: Ngoài khoản tiền thuê nhà bị khống chế 15%, các khoản lợi ích bằng tiền hoặc không bằng tiền do doanh nghiệp trả thay cho người lao động nhưng liên quan nhiều tháng sử dụng có phải phân bổ thu nhập chịu thuế theo từng tháng hay được xác định tại thời điểm chi trả/ghi nhận? Nguyên tắc xác định “thời điểm người lao động nhận được lợi ích” theo Điều 8 Thông tư 111/2013/TT-BTC được hiểu: theo thời điểm thanh toán của doanh nghiệp; hay theo thời gian người lao động thực tế sử dụng lợi ích? Trường hợp doanh nghiệp đã hạch toán chi phí trả trước và phân bổ kế toán theo thời gian, việc xác định thu nhập chịu thuế TNCN có bắt buộc tương ứng với thời gian phân bổ kế toán hay không?
09/04/2026
Trả lời:

Thuế Thành phố Hồ Chí Minh nhận được Văn bản trên Cổng thông tin điện tử - Bộ Tài chính ( mã 110226-12) của CÔNG TY TNHH PANASONIC ELECTRIC WORKS VIỆT NAM (Sau đây gọi là Công ty) về chính sách thuế TNCN đối với tiền thuê nhà do người sử dụng lao động trả thay tính vào thu nhập chịu thuế và các khoản lợi ích chi trả thay cho nhiều tháng hoặc nhiều kỳ làm việc.

Qua nội dung văn bản nói trên, Thuế Thành phố Hồ Chí Minh có ý kiến như sau:

- Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 3 Nghị định số 65/2013/NĐ-CP ngày 27/06/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân:

Điều 3. Thu nhập chịu thuế

Thu nhập chịu thuế của cá nhân gồm các loại thu nhập sau đây:

….

2. Thu nhập từ tiền lương, tiền công mà người lao động nhận được từ người sử dụng lao động, bao gồm:

a) Tiền lương, tiền công và các khoản có tính chất tiền lương, tiền công nhận được dưới các hình thức bằng tiền hoặc không bằng tiền.”.

- Căn cứ khoản 2 Điều 2 Nghị định số 12/2015/NĐ-CP ngày 12/02/2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật về thuế và sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định về thuế:

Điều 2. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 65/2013/NĐ-CP ngày 27 tháng 6 năm 2013 quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân, Điều 3 Nghị định số 91/2014/NĐ-CP ngày 01 tháng 10 năm 2014 sửa đổi, bổ sung một số điều tại các Nghị định quy định về thuế như sau:

2. Sửa đổi Điểm đ Khoản 2 Điều 3 như sau:

“đ) Các khoản lợi ích bằng tiền hoặc không bằng tiền ngoài tiền lương, tiền công do người sử dụng lao động trả mà người nộp thuế được hưởng dưới mọi hình thức:

- Tiền nhà ở, điện, nước và các dịch vụ kèm theo (nếu có), không bao gồm khoản lợi ích về nhà ở, điện, nước và các dịch vụ kèm theo (nếu có) đối với nhà ở do người sử dụng lao động xây dựng để cung cấp cho người lao động làm việc tại khu công nghiệp hoặc nhà ở do người sử dụng lao động xây dựng tại khu kinh tế, địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn hoặc địa bàn có điều kiệnkinh tế xã hội đặc biệt khó khăn cung cấp cho người lao động.

- Khoản tiền do người sử dụng lao động mua bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm không bắt buộc khác có tích lũy về phí bảo hiểm, mua bảo hiểm hưu trí tự nguyện hoặc đóng góp Quỹ hưu trí tự nguyện cho người lao động.

- Phí hội viên và các khoản chi dịch vụ khác phục vụ cho cá nhân theo yêu cầu, như: Chăm sóc sức khỏe, vui chơi, thể thao, giải trí, thẩm mỹ.

- Các khoản lợi ích khác theo quy định của pháp luật.”

- Căn cứ khoản 8 Điều 2 Nghị định số 12/2015/NĐ-CP ngày 12/02/2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật về thuế và sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định về thuế:

Điều 2. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 65/2013/NĐ-CP ngày 27 tháng 6 năm 2013 quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân, Điều 3 Nghị định số 91/2014/NĐ-CP ngày 01 tháng 10 năm 2014 sửa đổi, bổ sung một số điều tại các Nghị định quy định về thuế như sau:

8. Sửa đổi, bổ sung Điều 11 như sau

“Điều 11. Thuế đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công

1. Thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công được xác định theo quy định tại Khoản 2 Điều 3 Nghị định này.

2. Thời điểm xác định thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công là thời điểm người sử dụng lao động trả tiền lương, tiền công cho người nộp thuế hoặc thời điểm người nộp thuế nhận được thu nhập.

Trường hợp người sử dụng lao động mua cho người lao động bảo hiểm nhân thọ (trừ bảo hiểm hưu trí tự nguyện), bảo hiểm không bắt buộc khác có tích lũy về phí bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam, người lao động chưa phải tính vào thu nhập chịu thuế tại thời điểm mua bảo hiểm. Đến thời điểm đáo hạn hợp đồng, doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm khấu trừ tiền thuế theo tỷ lệ 10% trên khoản tiền phí tích lũy tương ứng với phần người sử dụng lao động mua cho người lao động từ ngày 01 tháng 7 năm 2013.

Trường hợp người sử dụng lao động mua cho người lao động bảo hiểm nhân thọ (trừ bảo hiểm hưu trí tự nguyện), bảo hiểm không bắt buộc khác có tích lũy về phí bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm không thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam được phép bán bảo hiểm tại Việt Nam thì người sử dụng lao động có trách nhiệm khấu trừ thuế theo tỷ lệ 10% trên khoản tiền phí bảo hiểm đã mua hoặc đóng góp trước khi trả thu nhập cho người lao động.

Căn cứ vào các quy định nêu trên, trường hợp Công ty trả thay người lao động các khoản lợi ích cho nhiều tháng hoặc nhiều kỳ làm việc thì khoản lợi ích này được xác định là thu nhập chịu thuế để tính thuế thu nhập cá nhân tại thời điểm người lao động được hưởng khoản lợi ích này. Từ kỳ tính thuế thu nhập cá nhân năm 2026, Công ty thực hiện theo quy định tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 ngày 10 tháng 12 năm 2025.

Thuế Thành phố Hồ Chí Minh trả lời Công ty biết để thực hiện./.

Gửi phản hồi: