Hỏi:
Trả lời:
Cục Hải quan trân trọng cảm ơn bạn đọc đã quan tâm, gửi câu hỏi đến Cổng Thông tin điện tử Bộ Tài chính. Câu hỏi của bạn Cục Hải quan có ý kiến như sau
Căn cứ khoản 1 Điều 60 Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 ngày 13/6/2019 quy định về xử lý số tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt nộp thừa:
Người nộp thuế có số tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt đã nộp lớn hơn số tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt phải nộp thì được bù trừ số tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt nộp thừa với số tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt còn nợ hoặc trừ vào số tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt phải nộp của lần nộp thuế tiếp theo hoặc được hoàn trả số tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt nộp thừa khi người nộp thuế không còn nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt.
Trường hợp người nộp thuế đề nghị bù trừ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt nộp thừa với số tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt còn nợ thì không tính tiền chậm nộp tương ứng với khoản tiền bù trừ trong khoáng thời gian từ ngày phát sinh khoản nộp thừa đến ngày cơ quan quản lý thuế thực hiện bù trừ."
Căn cứ khoán 60 Điều 1 Thông tư số 121/2025/TT-BTC ngày 18/12/2025 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung Điều 132 Thông tư số 38/2015/TT-BTC đã được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 65 Điều 1 Thông tư số 39/2018/TT-BTC như sau:
Điều 132. Xức lý số tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt được hoàn
…3. Đối với tiền thuế giá trị gia tăng được hoàn theo quy định tại khoản ! Điều này, người nộp thuế có trách nhiệm kê khai điều chỉnh với cơ quan thuế nơi quản lý doanh nghiệp về số tiền thuế giá trị gia tăng đã khẩu trừ trước khi đề nghị cơ quan hải quan hoàn theo quy định.
Sau khi ban hành quyết định hoàn thuế, cơ quan hải quan cung cấp thông tin cho cơ quan thuế.
Đề nghị doanh nghiệp căn cứ quy định nêu trên để thực hiện và liên hệ với cơ quan hải quan nơi làm thủ tục hải quan để hướng dẫn chi tiết./.
