Hỏi:
Trả lời:
Công văn 13401/BTC-CST ngày 28/8/2025 của Bộ Tài chính trả lời Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam về kiến nghị sửa đổi Luật Thuế GTGT số 48/2024/QH15.
Tại khoản 1 Điều 4 Luật Thuế GTGT số 48/2024/QH15 quy định người nộp thuế bao gồm: “1. Tổ chức, hộ, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng (sau đây gọi là cơ sở kinh doanh).”
Tại khoản 24 Điều 5 Luật Thuế GTGT số 48/2024/QH15 (được sửa đổi, bổ sung tại Điều 2 Luật số 09/2026/QH16) quy định đối tượng không chịu thuế bao gồm: “25. Hàng hóa, dịch vụ của hộ, cá nhân sản xuất, kinh doanh có doanh thu năm từ mức quy định của Chính phủ trở xuống; tài sản của tổ chức, cá nhân không kinh doanh, không phải là người nộp thuế giá trị gia tăng bán ra; hàng dự trữ quốc gia do cơ quan dự trữ quốc gia bán ra; các khoản thu phí, lệ phí theo quy định của pháp luật về phí và lệ phí. Căn cứ các chỉ số kinh tế vĩ mô, khả năng cân đối ngân sách; Chính phủ quy định mức doanh thu năm tại khoản này phù hợp với bối cảnh kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ.”.
Tại khoản 1 Điều 1 Nghị định số 141/2026/NĐ-CP ngày 29/5/2026 của Chính phủ quy định: “1. Sửa đổi cụm từ “500 triệu đồng” thành “01 tỷ đồng” tạiĐiều 3, Điều 4, khoản 1 Điều 8, Điều 9, Điều 10, khoản 3 Điều 11, khoản 1 và khoản 2 Điều 12, khoản 4 Điều 17, khoản 3 Điều 18 Nghị định số 68/2026/NĐ-CP.”
Tại khoản 3 Điều 9 Luật Thuế GTGT số 48/2024/QH15 quy định về thuế suất: “3. Mức thuế suất 10% áp dụng đối với hàng hóa, dịch vụ không quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, bao gồm cả dịch vụ được các nhà cung cấp nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam cung cấp cho tổ chức, cá nhân tại Việt Nam qua kênh thương mại điện tử và các nền tảng số.”
Về vấn đề này, Cục Thuế đã có công văn số 4614/CT-CS ngày 22/10/2025.
Đề nghị độc giả Trịnh Thị Phương Thảo nghiên cứu quy định nêu trên và công văn số 4614/CT-CS để thực hiện theo quy định của pháp luật.
