THỨ SÁU 25/7/2025 11:18
Hỏi:
Kính gửi: Bộ Tài chính Tôi tên Phạm Thu Hà, hiện đang công tác trong một Doanh nghiệp nhà nước. Trong quá trình công tác, tôi có gặp phải một số vướng mắc về chính sách thuế từ nguồn kinh phí bồi thường giải phóng mặt bằng các dự án hạ tầng, xin Bộ Tài chính giúp hướng dẫn, cụ thể: Căn cứ Điều 91, Điều 92, Điều 94, Điều 102 và Điều 104 Luật Đất đai năm 2024, chi phí bồi thường và nguồn vốn thực hiện di dời công trình hạ tầng kỹ thuật hiện hữu được xác định trong tổng mức đầu tư của dự án. Theo khoản 3 Điều 102 của Luật Đất đai quy định: “3. Đối với công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội gắn liền với đất đang sử dụng không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì mức bồi thường tính bằng giá trị xây dựng mới của công trình có tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương theo quy định của pháp luật chuyên ngành.” Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 14 Nghị định số 181/2025/NĐ-CP và khoản 1 Điều 4 Nghị định số 123/2020/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 70/2025/NĐ-CP), khoản thu tiền bồi thường, hỗ trợ di dời công trình hạ tầng kỹ thuật không thuộc đối tượng phải tính thuế GTGT và không phải lập hóa đơn. Theo phương án bồi thường được phê duyệt thì kinh phí bồi thường bao gồm cả thuế GTGT, tuy nhiên một số tổ chức chỉ chi trả tiền bồi thường trước thuế, phần thuế GTGT sẽ chi trả khi Doanh nghiệp xuất hóa đơn GTGT cho toàn bộ khoản kinh phí bồi thường theo phương án được phê duyệt. Trong khi đó, để thực hiện việc di dời, xây dựng lại công trình hạ tầng kỹ thuật theo phương án được duyệt, Doanh nghiệp phải mua sắm vật tư thiết bị, thuê nhà thầu thi công xây dựng và có phát sinh thuế GTGT đầu vào theo quy định. Do khoản kinh phí bồi thường di dời công trình HTKT thuộc trường hợp không phải lập hóa đơn theo quy định nêu trên nên phát sinh vướng mắc trong việc xác định và xử lý đối với phần thuế GTGT đầu vào thực tế mà Doanh nghiệp đã chi trả để thực hiện công tác di dời công trình HTKT. Tôi rất mong nhận được sự phản hồi hướng dẫn để thực hiện chế độ chính sách đúng quy định. Xin trân trọng./.
16/07/2026
Trả lời:

Căn cứ khoản 1, khoản 2 (đã được bổ sung điểm c theo khoản 2 Điều 3 Nghị định số 144/2026/NĐ-CP ngày 05/5/2026 của Chính phủ) và khoản 16 Điều 23 Mục 1 Chương III Nghị định số 181/2025/NĐ-CP ngày 01/7/2025 của Chính phủ quy định về khấu trừ thuế giá trị gia tăng:

“Điều 23. Khấu trừ thuế giá trị gia tăng

1.  Thuế giá trị gia tăng đầu vào của hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng được khấu trừ toàn bộ kể cả thuế giá trị gia tăng đầu vào không được bồi thường của hàng hóa, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng bị tổn thất, hàng hóa bị hao hụt tự nhiên do tính chất lý hóa trong quá trình vận chuyển….

2Thuế giá trị gia tăng đầu vào của hàng hóa (bao gồm cả tài sản cố định), dịch vụ sử dụng đồng thời cho sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế và không chịu thuế thì chỉ được khấu trừ số thuế giá trị gia tăng đầu vào của hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng…

c) Doanh thu của hàng hóa, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng quy định tại khoản này bao gồm cả doanh thu của hàng hóa không phải kê khai, tính nộp thuế giá trị gia tăng (nếu có) quy định tại khoản 1 Điều 5 Luật Thuế giá trị gia tăng số 48/2024/QH15đã được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 149/2025/QH15.

16.  Đối với số thuế giá trị gia tăng đầu vào không được khấu trừ, cơ sở kinh doanh được tính vào chi phí để tính thuế thu nhập doanh nghiệp hoặc tính vào nguyên giá của tài sản cố định theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp, trừ số thuế giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ mua vào từng lần có giá trị từ 05 triệu đồng trở lên không có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt”.

Đề nghị độc giả Phạm Thu Hà nghiên cứu các quy định nêu trên và thực tế nghiệp vụ phát sinh để tính thuế giá trị gia tăng thuế thu nhập doanh nghiệp theo đúng quy định.

Nếu có vướng mắc, đề nghị độc giả Phạm Thu Hà liên hvới Thuế Thành phố Cần Thơ (Phòng Quản lý, hỗ trợ doanh nghiệp số 3. Số điện thoại: 0292.3907026. Đa chỉ: Số 379, đường Nguyễn Văn Cừ, phường Tân An, thành phố Cần Thơ).

Gửi phản hồi: