Hỏi:
Trả lời:
Liên quan đến nội dung câu hỏi, Bảo hiểm xã hội Việt Nam trả lời Quý độc giả như sau:
Theo khoản 1 Điều 13 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định:
- Hợp đồng lao động là sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả công, tiền lương, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động. Trường hợp hai bên thỏa thuận bằng tên gọi khác nhưng có nội dung thể hiện về việc làm có trả công, tiền lương và sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên thì được coi là hợp đồng lao động.
Theo khoản 2 Điều 18 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định:
- Đối với công việc theo mùa vụ, công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng thì nhóm người lao động từ đủ 18 tuổi trở lên có thể ủy quyền cho một người lao động trong nhóm để giao kết hợp đồng lao động; trong trường hợp này, hợp đồng lao động phải được giao kết bằng văn bản và có hiệu lực như giao kết với từng người lao động. Hợp đồng lao động do người được ủy quyền ký kết phải kèm theo danh sách ghi rõ họ tên, ngày tháng năm sinh, giới tính, nơi cư trú và chữ ký của từng người lao động.
Theo điểm a khoản 1, khoản 3 Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 quy định thì:
- Người lao động là công dân Việt Nam thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc bao gồm người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ đủ 01 tháng trở lên, kể cả trường hợp người lao động và người sử dụng lao động thỏa thuận bằng tên gọi khác nhưng có nội dung thể hiện về việc làm có trả công, tiền lương và sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên;
- Người sử dụng lao động thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc bao gồm cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập; cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp thuộc Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và tổ chức cơ yếu; tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội khác; cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam; doanh nghiệp, tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, hộ kinh doanh, tổ chức khác và cá nhân có thuê mướn, sử dụng lao động theo hợp đồng lao động.
Như vậy, đối chiếu với các quy định nêu trên việc xác định nghĩa vụ tham gia BHXH bắt buộc không chỉ căn cứ vào tên gọi của hợp đồng mà phải căn cứ vào nội dung thỏa thuận thực tế, phương thức tổ chức thực hiện công việc, bản chất quan hệ giữa các bên (mức độ quản lý, điều hành, giám sát), cụ thể như sau:
- Nếu nội dung và quá trình thực hiện hợp đồng thể hiện trưởng nhóm và từng thành viên trong tổ đội làm việc có trả công, tiền lương và chịu sự quản lý, điều hành, giám sát của Công ty theo bản chất của quan hệ lao động, thì hợp đồng mà 2 bên thỏa thuận bằng tên gọi khác vẫn được xác định là hợp đồng lao động theo khoản 1 Điều 13 Bộ luật Lao động năm 2019.
Do đó, người (người đội trưởng của tổ đội) và từng công nhân tham gia thực hiện công việc trong tổ đội có làm việc từ 01 tháng trở lên và Công ty thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc; công ty có trách nhiệm phối hợp với người lao động để lập hồ sơ, đóng BHXH bắt buộc theo đúng quy định của pháp luật.
- Nếu trưởng nhóm và tổ đội chủ động tổ chức, phân công nhân lực, lựa chọn phương thức thực hiện công việc, tự chịu trách nhiệm về kết quả theo hợp đồng; Công ty chỉ giao yêu cầu về khối lượng, tiêu chuẩn kỹ thuật, kiểm tra chất lượng và nghiệm thu sản phẩm, kết quả hoàn thành mà không hình thành quan hệ quản lý, điều hành, giám sát mang bản chất của quan hệ lao động, thì hợp đồng mà 2 bên thỏa thuận bằng tên gọi khác chưa được xác định là hợp đồng lao động theo khoản 1 Điều 13 Bộ luật Lao động năm 2019. Trong trường hợp này, Công ty không phải đóng BHXH bắt buộc cho trưởng nhóm và các thành viên.
BHXH Việt Nam trả lời để Ông/bà được biết, nếu cần tư vấn, hỗ trợ thêm, Ông/bà vui lòng liên hệ cơ quan BHXH cơ sở nơi đơn vị Ông/bà đóng BHXH hoặc các kênh Hỗ trợ, tư vấn của BHXH Việt Nam (Zalo, Fanpage, Email, Tổng đài 19009068) để được hỗ trợ.
