THỨ SÁU 25/7/2025 11:18
Hỏi:
Theo điều 4, Nghị định 193/2026/NĐ-CP quy định về quyết toán vốn đầu tư dự án thì: Vốn đầu tư được quyết toán là toàn bộ chi phí hợp pháp đã thực hiện (bao gồm cả các chi phí thanh toán hợp đồng bảo hiểm, phí, lệ phí, chi phí thẩm tra, phê duyệt quyết toán) trong quá trình đầu tư để đưa dự án vào khai thác, sử dụng hoặc dừng thực hiện theo văn bản cho phép dừng thực hiện của người có thẩm quyền quyết định đầu tư. Chi phí đầu tư được quyết toán phải nằm trong giới hạn tổng mức đầu tư được duyệt hoặc được điều chỉnh, bổ sung theo quy định của pháp luật. Mặt khác theo điểm d khoản 2 điều 12 của nghị định 206/2026/NĐ-CP Chi phí xây dựng công trình có bao gồm Thuế giá trị gia tăng. Ngoài ra theo khoản 2, điều 26 của nghị định này cũng nêu rõ Chi phí tư vấn xây dựng có bao gồm thuế giá trị gia tăng. Theo Thông tư 99/2025/TT-BTC và Luật Thuế GTGT số 48/2024/QH15, nếu doanh nghiệp nộp thuế theo phương pháp khấu trừ, phần thuế GTGT đầu vào đủ điều kiện khấu trừ hoặc được hoàn sẽ không được tính vào chi phí đầu tư để hình thành nguyên giá tài sản. Theo Điều 15. Thẩm tra chi phí đầu tư không tính vào giá trị tài sản, nghị định 193/2026/NĐ-CP thì không có nội dung liên quan đến thuế GTGT được khấu trừ. Vậy phần thuế giá trị gia tăng được khấu trừ sẽ được thể hiện như thế nào theo mẫu 01/QTDA
15/08/2026
Trả lời:

1. Theo Điều 4, Nghị định số 193/2026/NĐ-CP quy định về quyết toán vốn đầu tư dự án thì: "Vốn đầu tư được quyết toán là toàn bộ chi phí hợp pháp đã thực hiện (bao gồm cả các chi phí thanh toán hợp đồng bảo hiểm, phí, lệ phí, chi phí thẩm tra, phê duyệt quyết toán) trong quá trình đầu tư để đưa dự án vào khai thác, sử dụng hoặc dừng thực hiện theo văn bản cho phép dừng thực hiện của người có thẩm quyền quyết định đầu tư. Chi phí đầu tư được quyết toán phải nằm trong giới hạn tổng mức đầu tư được duyệt hoặc được điều chỉnh, bổ sung theo quy định của pháp luật."

2. Theo quy định tại Khoản 2 Điều 3 Nghị định số 193/2026/NĐ-CP: "Chi phí hợp pháp là toàn bộ các khoản chi phí đã thực hiện trong phạm vi dự án, dự toán được duyệt và hợp đồng đã ký kết phù hợp với quy định của pháp luật (đối với những công việc thực hiện theo hợp đồng) kể cả phần điều chỉnh, bổ sung được duyệt theo quy định và đúng thẩm quyền."

3. Căn cứ khoản 2 Điều 9 Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp số 67/2025/QH15 ngày 14/6/2025 về các khoản chi được trừ và không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế để xác định số thuế GTGT đầu vào không được khấu trừ mà cơ sở kinh doanh được tính vào chi phí để tính thuế thu nhập doanh nghiệp và điểm đ, điểm e Điều 14 Luật Thuế GTGT số 48/2024/QH15 quy định về khấu trừ thuế GTGT đầu vào; về nguyên tắc, số thuế GTGT đầu vào không được khấu trừ, cơ sở kinh doanh được tính vào chi phí để tính thuế thu nhập doanh nghiệp hoặc tính vào nguyên giá của tài sản cố định theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp, trừ số thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ mua vào không có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt theo quy định.

Do đó, nếu khoản thuế GTGT đã được nhà nước hoàn lại bằng tiền hoặc khấu trừ qua thuế GTGT đầu ra thì không được tính vào giá trị tài sản cố định, chi phí đầu tư hay chi phí được trừ khi tính thuế thu nhập.

Theo các quy định trên, doanh nghiệp nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ, khoản thuế GTGT đầu vào đủ điều kiện khấu trừ hoặc được hoàn không thuộc chi phí vốn đầu tư được quyết toán của dự án theo quy định tại Nghị định số 193/2026/NĐ-CP.

Tại biểu mẫu số 01/QTDA ban hành kèm theo Nghị định số 193/2026/NĐ-CP không quy định chỉ tiêu riêng để phản ánh số thuế GTGT được khấu trừ. Vì vậy, khi lập báo cáo quyết toán, chủ đầu tư xác định giá trị vốn đầu tư đề nghị quyết toán theo quy định của Nghị định số 193/2026/NĐ-CP; trong đó vốn đầu tư được quyết toán không bao gồm chi phí phần thuế GTGT đầu vào đủ điều kiện khấu trừ hoặc được hoàn theo quy định của pháp luật về thuế.

Đề nghị Quý độc giả căn cứ quy định nêu trên để thực hiện.  

Gửi phản hồi: