Xin quý cơ quan giải đáp giúp công ty vấn đề sau ạ:
Căn cứ Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 và Nghị định số 253/2026/NĐ-CP ngày 30/06/2026 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập cá nhân, doanh nghiệp chúng tôi kính đề nghị Cơ quan Thuế hướng dẫn cụ thể về việc xác định và giảm trừ khoản đóng bảo hiểm nhân thọ khi tính thuế thu nhập cá nhân đối với người lao động từ năm 2026.
Theo quy định tại Điều 46 Nghị định số 253/2026/NĐ-CP, khoản đóng bảo hiểm nhân thọ được trừ khỏi thu nhập khi xác định thu nhập tính thuế, với tổng mức tối đa không quá 3.000.000 đồng/người/tháng đối với các khoản bảo hiểm hưu trí bổ sung, bảo hiểm hưu trí tự nguyện và bảo hiểm nhân thọ, bao gồm cả số tiền do người sử dụng lao động đóng cho người lao động và số tiền do người lao động tự đóng (nếu có).
Tuy nhiên, trong thực tế doanh nghiệp phát sinh một số trường hợp cần được hướng dẫn cụ thể như sau:
Câu hỏi 1: Trường hợp doanh nghiệp ký hợp đồng bảo hiểm nhân thọ cho người lao động và doanh nghiệp trực tiếp thanh toán phí bảo hiểm cho công ty bảo hiểm, khoản phí này có được xác định là khoản được giảm trừ khi tính thuế TNCN của chính người lao động hay không?
Câu hỏi 2: Trường hợp phí bảo hiểm nhân thọ do doanh nghiệp đóng cho người lao động là 30 triệu đồng/năm (tương đương 2,5 triệu đồng/tháng), doanh nghiệp có được giảm trừ toàn bộ 2,5 triệu đồng/tháng khi xác định thu nhập tính thuế TNCN của người lao động hay không?
Câu hỏi 3: Trường hợp doanh nghiệp đóng bảo hiểm nhân thọ cho người lao động 4 triệu đồng/tháng, phần được giảm trừ có phải chỉ giới hạn tối đa 3 triệu đồng/tháng hay không? Phần vượt 3 triệu đồng/tháng có phải tính vào thu nhập chịu thuế TNCN của người lao động không?
Câu hỏi 4: Trường hợp người lao động đồng thời có:
Doanh nghiệp đóng bảo hiểm nhân thọ: 2 triệu đồng/tháng;
Người lao động tự đóng bảo hiểm nhân thọ: 1,5 triệu đồng/tháng;
thì tổng mức được giảm trừ có phải là 3 triệu đồng/tháng, trong đó 500.000 đồng còn lại không được giảm trừ hay không?
Câu hỏi 5: Trường hợp doanh nghiệp đóng bảo hiểm nhân thọ cho người lao động nhưng hợp đồng bảo hiểm đứng tên người lao động, người thụ hưởng là người lao động hoặc người thân của người lao động, thì khoản phí bảo hiểm doanh nghiệp đóng có được áp dụng mức giảm trừ tối đa 3 triệu đồng/tháng theo Điều 46 Nghị định 253/2026/NĐ-CP hay không?
Câu hỏi 6: Trường hợp doanh nghiệp mua bảo hiểm nhân thọ cho người lao động nhưng khoản phí bảo hiểm được doanh nghiệp thanh toán một lần cho cả năm, ví dụ 36 triệu đồng/năm, thì khi tính thuế TNCN có được phân bổ tương ứng 3 triệu đồng/tháng để giảm trừ thu nhập tính thuế của người lao động hay phải xác định giảm trừ tại thời điểm doanh nghiệp thanh toán phí bảo hiểm?
Câu hỏi 7: Trường hợp doanh nghiệp đóng bảo hiểm nhân thọ cho người lao động theo chính sách phúc lợi được quy định trong hợp đồng lao động/quy chế của doanh nghiệp, doanh nghiệp có cần cung cấp hoặc lưu giữ những hồ sơ, chứng từ gì để chứng minh khoản bảo hiểm được giảm trừ khi tính thuế TNCN?
Câu hỏi 8: Đề nghị Cơ quan Thuế hướng dẫn rõ cách thể hiện khoản bảo hiểm nhân thọ được giảm trừ trên bảng lương, chứng từ khấu trừ thuế TNCN và hồ sơ quyết toán thuế TNCN cuối năm của người lao động.
27/08/2026