THỨ SÁU 25/7/2025 11:18
Hỏi:
THỜI ĐIỂM XÁC ĐỊNH THU NHẬP TÍNH THUẾ KHÔNG THỂ ĐÁNH ĐỒNG VỚI THỜI ĐIỂM XÁC ĐỊNH THUẾ SUẤT 1. Vấn đề Cơ quan thuế đang khấu trừ 10% đối với tiền lương còn nợ, chi trả sau khi người lao động nghỉ việc — bất kể người đó đã ký HĐLĐ từ 03 tháng trở lên hay không. Cách hiểu này đánh đồng "thời điểm xác định thu nhập tính thuế" (một khái niệm về thời gian ghi nhận) với "thời điểm xác định thuế suất" và bản chất khoản thu nhập — hai phạm trù hoàn toàn khác nhau. 2. Căn cứ pháp lý Khoản 3 Điều 46, khoản 2 Điều 46 và Điều 8 Nghị định 253 — quy định về thời điểm ghi nhận, thu nhập tính thuế và thu nhập chịu thuế đối với tiền lương, tiền công — không hề nhắc đến loại hợp đồng lao động hay thời hạn hợp đồng. Đây không phải sơ suất, mà vì tiêu chí đó không thuộc phạm vi điều chỉnh của các điều khoản này. Cơ quan thuế cho rằng thời điểm chi trả quyết định luôn thuế suất áp dụng, tức là đang tự thêm một điều kiện mà luật không đặt ra. 3. Bản chất khoản thu nhập được xác lập khi phát sinh quan hệ lao động, không phải khi chi trả Tiền lương phát sinh từ HĐLĐ từ 03 tháng trở lên tại thời điểm người lao động làm việc — đây là căn cứ xác định bản chất khoản thu nhập, không phải thời điểm chi trả sau đó. Doanh nghiệp chậm trả chỉ là vấn đề quản trị dòng tiền, không làm thay đổi bản chất pháp lý của khoản thu nhập. Nếu chấp nhận logic ngược lại, hai người lao động cùng HĐLĐ, cùng công việc sẽ chịu hai mức thuế khác nhau chỉ vì một người được trả đúng hạn, người kia bị trả chậm — một kết quả vô lý. Thời điểm chi trả sau khi nghỉ việc chỉ quyết định kỳ tính thuế nào ghi nhận khoản thu nhập (theo khoản 3 Điều 46), chứ không làm thay đổi thuế suất áp dụng. 4. Phạm vi khấu trừ 10% tại khoản 2 Điều 50 chỉ dành cho một nhóm đối tượng xác định Quy định khấu trừ 10% áp dụng cho: cá nhân không ký HĐLĐ hoặc ký HĐLĐ dưới 03 tháng. Cụm "(bao gồm cả trường hợp trả tiền lương... cho người lao động đã chấm dứt hợp đồng lao động)" chỉ là mệnh đề bổ nghĩa cho nhóm này — không tạo thành một nhóm độc lập áp dụng cho mọi trường hợp chi trả sau khi nghỉ việc, bất kể loại hợp đồng. Ngay đoạn sau của cùng khoản 2 Điều 50, luật quy định rõ: cá nhân ký HĐLĐ từ 03 tháng trở lên thì khấu trừ theo biểu thuế lũy tiến từng phần, kể cả khi ký hợp đồng tại nhiều nơi. Hai nhóm đối tượng được đặt cạnh nhau với hai chế độ khấu trừ khác biệt — đây là sự phân định có chủ đích, không thể bị xóa nhòa. Kết luận: Tiền lương phát sinh từ HĐLĐ từ 03 tháng trở lên, dù chi trả sau khi nghỉ việc, vẫn phải áp dụng biểu thuế lũy tiến từng phần, không đương nhiên khấu trừ 10%. Thời điểm chi trả chỉ quyết định kỳ tính thuế ghi nhận khoản thu nhập, không quyết định lại bản chất hay thuế suất của khoản thu nhập đó. Rất mong cán bộ thuế hoặc cơ quan ban hành văn bản giải thích rõ nếu quan điểm trên chưa đúng — vì cách nói phổ biến "thời điểm xác định thuế TNCN là thời điểm trả thu nhập" đang bị dùng sai, dẫn đến hiểu sai nhiều quy định liên quan khác.
27/08/2026
Trả lời:

Ngày 19/08/2026 Thuế thành phố Đà Nẵng nhận được phiếu hỏi trên Cổng thông tin điện tử - Bộ Tài chính số 190826-22 của độc giả Trần Hồ Thy Ngân (địa chỉ: lô NM-02.1, KCN Tam Thăng 2, xã Thăng Trường, thành phố Đà Nẵng) hỏi về chính sách thuế Thuế Thu nhập cá nhân (TNCN) đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công (TLTC) chi trả người lao động (NLĐ) khi chấm dứt hợp đồng lao động (HĐLĐ). Vấn đề này, Thuế thành phố Đà Nẵng có ý kiến như sau:

-      Căn cứ Luật thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 ngày 10/12/2025:

+ Tại khoản 2 Điều 3 quy định về thu nhập chịu thuế thu nhập từ tiền lương, tiền công;

+ Tại Điều 9 quy định về Biểu thuế lũy tiến từng phần.

- Căn cứ Nghị định số 253/2026/NĐ-CP ngày 30/6/2026 quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập cá nhân:

+ Tại khoản 1 Điều 6 quy định về thu nhập chịu thuế;

“1. Thu nhập chịu thuế của cá nhân gồm các loại thu nhập quy định tại các Điều 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15 và 16 của Nghị định này, trừ thu nhập được miễn thuế quy định tại Mục 1 Chương III của Nghị định này.”

+ Tại Điều 8 quy định về thu nhập từ tiền lương, tiền công;

+ Tại Điều 46 quy định cách xác định thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công:

1. Thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú được xác định bằng thu nhập tính thuế quy định tại khoản 2 Điều này, không phân biệt nơi trả và nhận thu nhập, nhân (x) với thuế suất tại Biểu thuế lũy tiến từng phần quy định tại Điều 9 của Luật Thuế thu nhập cá nhân. Số thuế tính theo từng bậc thuế xác định bằng phần thu nhập tính thuế của bậc thuế nhân (x) với thuế suất tương ứng của bậc thuế đó.

2. Thu nhập tính thuế đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công là tổng thu nhập chịu thuế quy định tại Điều 8 của Nghị định này mà người nộp thuế nhận được trong kỳ tính thuế trừ (-) đi các khoản dưới đây:

3. Thời điểm xác định thu nhập tính thuế từ tiền lương, tiền công là thời điểm người sử dụng lao động trả tiền lương, tiền công cho người nộp thuế hoặc thời điểm người nộp thuế nhận được thu nhập, kể cả các khoản lợi ích bằng tiền hoặc không bằng tiền, các khoản trợ cấp, phụ cấp và thu nhập khác quy định tại Điều 8 của Nghị định này trong kỳ tính thuế.”

+ Tại khoản 2 Điều 50 quy định về khấu trừ thuế:

“Điều 50. Khấu trừ thuế

…2. Tổ chức, cá nhân trả tiền lương, tiền công, tiền thù lao, tiền chi khác cho cá nhân cư trú không ký hợp đồng hoặc ký hợp đồng lao động dưới 03 tháng (bao gồm cả trường hợp trả tiền lương, thu nhập khác cho người lao động đã chấm dứt hợp đồng lao động) mà mức chi trả thu nhập từ 05 triệu đồng/lần trở lên thì phải khấu trừ thuế và nộp số thuế đã khấu trừ của cá nhân theo tỷ lệ 10% trên thu nhập trước khi trả thu nhập cho cá nhân. Trường hợp mức chi trả thu nhập dưới 05 triệu đồng/lần thì tổ chức, cá nhân trả thu nhập được khấu trừ thuế theo tỷ lệ 10% khi cá nhân có yêu cầu.

Đối với cá nhân cư trú ký hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên thì tổ chức, cá nhân trả thu nhập thực hiện khấu trừ thuế theo Biểu thuế lũy tiến từng phần theo quy định tại khoản 1 Điều này, kể cả trường hợp cá nhân ký hợp đồng từ 03 tháng trở lên tại nhiều nơi.”

Căn cứ các quy định nêu trên, Thuế thành phố Đà Nẵng trả lời như sau:

- Trường hợp Công ty có chi trả TLTC cho NLĐ ký HĐLĐ từ 03 tháng trở lên, thì thời điểm xác định thu nhập tính thuế TNCN từ TLTC là thời điểm trả TLTC cho NLĐ. Theo đó, trường hợp NLĐ đã chấm dứt HĐLĐ, nếu TLTC được Công ty chi trả trước khi HĐLĐ chấm dứt thì việc xác định thuế TNCN thực hiện theo quy định tại Điều 46 Nghị định số 253/2026/NĐ-CP; nếu TLTC được chi trả kể từ thời điểm đã chấm dứt HĐLĐ thì việc xác định thuế TNCN thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 50 Nghị định số 253/2026/NĐ-CP của Chính phủ.

- Mức chi trả thu nhập thuộc trường hợp khấu trừ thuế TNCN theo tỷ lệ 10% quy định tại khoản 2 Điều 50 Nghị định số 253/2026/NĐ-CP được xác định theo từng lần chi trả thu nhập cho NLĐ; đồng thời được trừ (-) thu nhập miễn thuế quy định tại khoản 8 Điều 4 Luật Thuế TNCN số 109/2025/QH15 trước khi tính số thuế TNCN phải khấu trừ.

Đề nghị độc giả Trần Hồ Thy Ngân căn cứ vào tình hình thực tế, đối chiếu với các viện dẫn nêu trên để thực hiện theo đúng quy định..

Thuế thành phố Đà Nẵng thông báo cho độc giả Trần Hồ Thy Ngân được biết./.

Gửi phản hồi: