THỨ SÁU 25/7/2025 11:18
Hỏi:

Kính gửi Bộ Tài chính,

Công ty chúng tôi có người lao động nước ngoài là cá nhân cư trú tại Việt Nam, nhận thu nhập từ tiền lương, tiền công tại Việt Nam và tại nước sở tại. Đối với thu nhập tại nước sở tại, người lao động đóng bảo hiểm bắt buộc theo quy định của quốc gia đó. Công ty tại nước sở tại khấu trừ phần bảo hiểm người lao động phải đóng từ tiền lương và nộp thay cho người lao động.

Theo điểm a khoản 2 Điều 46 Nghị định số 253/2026/NĐ-CP, căn cứ xác định khoản bảo hiểm được trừ gồm bản chụp chứng từ nộp tiền (hoặc nộp phí) do tổ chức bảo hiểm cấp và xác nhận của tổ chức trả thu nhập về số tiền bảo hiểm đã khấu trừ, đã nộp trong trường hợp tổ chức trả thu nhập nộp thay.

Công ty chúng tôi hiểu rằng, đối với trường hợp công ty tại nước sở tại nộp bảo hiểm thay cho người lao động, hồ sơ cần có cả hai loại chứng từ nêu trên. Tuy nhiên, công ty tại nước sở tại thường nộp bảo hiểm tập trung cho nhiều người lao động. Vì vậy, chứng từ do tổ chức bảo hiểm cấp có thể chỉ ghi nhận số tiền nộp chung của công ty mà không thể hiện riêng số tiền của từng cá nhân (như C12 của BHXH tại Việt Nam).

Kính đề nghị Bộ Tài chính hướng dẫn: Trong trường hợp tổ chức bảo hiểm nước ngoài không cấp chứng từ nộp tiền riêng cho từng cá nhân, người lao động cần chuẩn bị hồ sơ như thế nào để đáp ứng yêu cầu về “bản chụp chứng từ nộp tiền (hoặc nộp phí) do tổ chức bảo hiểm cấp”?

Cụ thể, người lao động có thể sử dụng bản chụp chứng từ do tổ chức bảo hiểm cấp cho khoản công ty nộp chung, kèm theo bảng lương, bảng kê chi tiết số tiền bảo hiểm của từng cá nhân và xác nhận của công ty tại nước sở tại để chứng minh khoản bảo hiểm được trừ hay không?

Trường hợp công ty không thể cung cấp chứng từ nộp tiền chung, xác nhận của công ty và tài liệu thể hiện số tiền bảo hiểm đã khấu trừ, đã nộp cho cá nhân có được chấp nhận hay không?

Kính mong Bộ Tài chính hướng dẫn để công ty và người lao động chuẩn bị hồ sơ đúng quy định khi kê khai, quyết toán thuế TNCN tại Việt Nam.

Trân trọng cảm ơn.

14/10/2026
Trả lời:

Tại điểm a khoản 2 Điều 46 Nghị định số 253/2026/NĐ-CP quy định:

“Điều 46. Thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công

…

2. Thu nhập tính thuế đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công là tổng thu nhập chịu thuế quy định tại Điều 8 của Nghị định này mà người nộp thuế nhận được trong kỳ tính thuế trừ (-) đi các khoản dưới đây:

a) Các khoản đóng góp bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp đối với một số ngành, nghề phải tham gia bảo hiểm bắt buộc, khoản đóng góp bảo hiểm xã hội tự nguyện theo Luật Bảo hiểm xã hội, khoản đóng góp bảo hiểm y tế tự nguyện theo Luật Bảo hiểm y tế, khoản đóng góp tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung theo Luật Bảo hiểm xã hội, mua bảo hiểm hưu trí tự nguyện, bảo hiểm nhân thọ.

Mức đóng góp tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung theo Luật Bảo hiểm xã hội, mua bảo hiểm hưu trí tự nguyện, bảo hiểm nhân thọ được trừ ra khỏi thu nhập khi xác định thu nhập tính thuế quy định tại điểm này tổng tối đa không quá 03 triệu đồng/tháng cho các hình thức tham gia bảo hiểm này, bao gồm cả số tiền do người sử dụng lao động đóng cho người lao động và cả số tiền do người lao động tự đóng (nếu có).

Trường hợp cá nhân cư trú tại Việt Nam có thu nhập từ tiền lương, tiền công ở nước ngoài đã tham gia đóng các khoản bảo hiểm bắt buộc theo quy định của quốc gia nơi cá nhân đóng các loại bảo hiểm này như bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp đối với một số ngành, nghề phải tham gia bảo hiểm bắt buộc thì được trừ các khoản phí bảo hiểm đó vào thu nhập chịu thuế khi xác định thu nhập tính thuế từ tiền lương, tiền công.

Khoản đóng góp bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp đối với một số ngành, nghề phải tham gia bảo hiểm bắt buộc, khoản đóng góp tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung theo Luật Bảo hiểm xã hội, mua bảo hiểm hưu trí tự nguyện của năm nào được trừ vào thu nhập chịu thuế của năm đó.

Căn cứ xác định thu nhập được trừ là bản chụp chứng từ nộp tiền (hoặc nộp phí) do tổ chức bảo hiểm, quỹ hưu trí bổ sung, doanh nghiệp bảo hiểm cấp và xác nhận của tổ chức trả thu nhập về số tiền bảo hiểm đã khấu trừ, đã nộp (trường hợp tổ chức trả thu nhập nộp thay);”

Căn cứ quy định nêu trên, việc xác định hồ sơ, chứng từ chứng minh tương ứng với loại hình bảo hiểm. Trường hợp cá nhân tham gia đóng các khoản bảo hiểm bắt buộc theo quy định của quốc gia nơi cá nhân đóng các loại bảo hiểm này không cung cấp được bản chụp chứng từ nộp tiền thì cá nhân cung cấp hồ sơ, chứng từ liên quan để chứng minh; trường hợp tổ chức trả thu nhập nộp thay các khoản bảo hiểm này thì tổ chức trả thu nhập xác nhận về số tiền bảo hiểm đã khấu trừ, đã nộp thay.

Đề nghị công dân căn cứ vào quy định tại Luật Thuế TNCN và các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành để thực hiện.

Trường hợp còn vướng mắc, đề nghị liên hệ với cơ quan quản lý thuế trực tiếp để được hướng dẫn cụ thể.

Gửi phản hồi: