THỨ SÁU 25/7/2025 11:18
Hỏi:
Căn cứ khoản 23 Điều 10 Nghị định 320/2025/NĐ-CP có quy định các khoản chi không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN, trong đó bao gồm "Khoản chi cho làm thêm giờ vượt mức thời gian quy định của pháp luật về lao động". Vậy tôi xin hỏi, thời gian vượt mức theo quy định này là tính theo ngày, theo tháng hay theo năm? Ví dụ, trong tháng người lao động có 4 ngày làm thêm 5h tức là vượt mức theo ngày nhưng không vượt mức theo tháng. Vậy khoản vượt mức 1h của 4 ngày công kia có bị coi là chi phí không hợp lệ không? Tương tự như vậy, nếu vượt mức theo ngày / tháng nhưng lại không vượt mức theo năm thì cuối năm khi tính thuế TNDN có được điều chỉnh các khoản chi phí này từ không hợp lệ thành chi phí hợp lệ không?
18/08/2026
Trả lời:

Khoản 23 Điều 10 Nghị định 320/2025/NĐ-CP ngày 15/12/2025 của Chính phủ quy định khoản chi không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế, trong đó có:

23. Khoản chi không đáp ứng điều kiện chi, nội dung chi theo quy định của pháp luật chuyên ngành, bao gồm: Khoản chi cho làm thêm giờ vượt mức thời gian quy định của pháp luật về lao động; khoản chi quảng cáo trong trường hợp quảng cáo các sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ bị cấm quảng cáo hoặc quảng cáo các sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ phải đăng ký với cơ quan có thẩm quyền nhưng doanh nghiệp không thực hiện đăng ký quảng cáo theo quy định của pháp luật; khoản chi phục vụ sản xuất, kinh doanh không đúng hoặc vượt mức chi theo quy định của pháp luật chuyên ngành”.

Điều 107, 108 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định:

Điều 107. Làm thêm giờ

1. Thời gian làm thêm giờ là khoảng thời gian làm việc ngoài thời giờ làm việc bình thường theo quy định của pháp luật, thỏa ước lao động tập thể hoặc nội quy lao động.

2. Người sử dụng lao động được sử dụng người lao động làm thêm giờ khi đáp ứng đầy đủ các yêu cầu sau đây:

a) Phải được sự đồng ý của người lao động;

b) Bảo đảm số giờ làm thêm của người lao động không quá 50% số giờ làm việc bình thường trong 01 ngày; trường hợp áp dụng quy định thời giờ làm việc bình thường theo tuần thì tổng số giờ làm việc bình thường và số giờ làm thêm không quá 12 giờ trong 01 ngày; không quá 40 giờ trong 01 tháng;

c) Bảo đảm số giờ làm thêm của người lao động không quá 200 giờ trong 01 năm, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này.

3. Người sử dụng lao động được sử dụng người lao động làm thêm không quá 300 giờ trong 01 năm trong một số ngành, nghề, công việc hoặc trường hợp sau đây:

a) Sản xuất, gia công xuất khẩu sản phẩm hàng dệt, may, da, giày, điện, điện tử, chế biến nông, lâm, diêm nghiệp, thủy sản;

b) Sản xuất, cung cấp điện, viễn thông, lọc dầu; cấp, thoát nước;

c) Trường hợp giải quyết công việc đòi hỏi lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao mà thị trường lao động không cung ứng đầy đủ, kịp thời;

d) Trường hợp phải giải quyết công việc cấp bách, không thể trì hoãn do tính chất thời vụ, thời điểm của nguyên liệu, sản phẩm hoặc để giải quyết công việc phát sinh do yếu tố khách quan không dự liệu trước, do hậu quả thời tiết, thiên tai, hỏa hoạn, địch họa, thiếu điện, thiếu nguyên liệu, sự cố kỹ thuật của dây chuyền sản xuất;

đ) Trường hợp khác do Chính phủ quy định.

4. Khi tổ chức làm thêm giờ theo quy định tại khoản 3 Điều này, người sử dụng lao động phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

5. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Điều 108. Làm thêm giờ trong trường hợp đặc biệt

Người sử dụng lao động có quyền yêu cầu người lao động làm thêm giờ vào bất kỳ ngày nào mà không bị giới hạn về số giờ làm thêm theo quy định tại Điều 107 của Bộ luật này và người lao động không được từ chối trong trường hợp sau đây:

1. Thực hiện lệnh động viên, huy động bảo đảm nhiệm vụ quốc phòng, an ninh theo quy định của pháp luật;

2. Thực hiện các công việc nhằm bảo vệ tính mạng con người, tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phòng ngừa, khắc phục hậu quả thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh nguy hiểm và thảm họa, trừ trường hợp có nguy cơ ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe của người lao động theo quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động”.

Tại các Điều 60, 61, 62 Nghị định số 145/2020/NĐ-CP ngày 14/12/2020 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về điều kiện lao động và quan hệ lao động đã quy định cụ thể về giới hạn số giờ làm thêm, các trường hợp được tổ chức làm thêm từ trên 200 giờ đến 300 giờ trong một năm thông báo về việc tổ chức làm thêm từ trên 200 giờ đến 300 giờ trong một năm.

Đề nghị độc giả nghiên cứu các quy định nêu trên để thực hiện theo đúng quy định của pháp luật. Trường hợp có vướng mắc trong việc xác định thời gian làm thêm giờ, đề nghị đọc giả có ý kiến với Bộ Nội vụ - là đơn vị chủ trì xây dựng Bộ luật Lao động và Nghị định số 145/2020/NĐ-CP để được giải đáp.

Gửi phản hồi: