THỨ SÁU 25/7/2025 11:18
Hỏi:

Căn cứ khoản 3 Điều 33 Nghị định số 312/2025/NĐ-CP ngày 06/12/2025 của Chính phủ quy định về cơ chế quản lý tài chính dự án đầu tư theo phương thức đối tác công tư và cơ chế thanh toán, quyết toán đối với dự án áp dụng loại hợp đồng BT:

“3. Nhà nước thanh toán cho doanh nghiệp dự án BT, nhà đầu tư sau khi dự án BT hoặc hạng mục công trình, công trình xây dựng thuộc dự án BT vận hành độc lập được cơ quan ký kết hợp đồng BT cấp xác nhận hoàn thành theo quy định của pháp luật xây dựng hoặc pháp luật khác có liên quan theo quy định và đã được kiểm toán giá trị dự án BT hoàn thành, hạng mục công trình, công trình xây dựng thuộc dự án BT vận hành độc lập hoàn thành.”  

Nhằm đảm bảo thống nhất cách hiểu và áp dụng quy định pháp luật trong quá trình thực hiện dự án, tôi kính đề nghị Bộ Tài chính hướng dẫn và làm rõ các nội dung sau:

Cụm từ “hạng mục công trình, công trình xây dựng thuộc dự án BT vận hành độc lập được cơ quan ký kết hợp đồng BT cấp xác nhận hoàn thành” được hiểu theo phương án nào dưới đây:

Phương án 1: Là hạng mục công trình hoặc công trình xây dựng đã hoàn thành theo quy định và có khả năng vận hành độc lập, làm cơ sở để xem xét thanh toán trước khi toàn bộ dự án BT hoàn thành;

Phương án 2: Là hạng mục công trình hoặc công trình xây dựng đã hoàn thành, thuộc về một dự án BT có tính chất vận hành độc lập?

Trường hợp áp dụng hiểu theo Phương án 2, kính đề nghị Bộ Tài chính hướng dẫn cụ thể về khái niệm, tiêu chí xác định “dự án BT vận hành độc lập”, cũng như các điều kiện để một hạng mục công trình/công trình xây dựng được xác định là vận hành độc lập làm căn cứ xác định điều kiện thanh toán theo quy định nêu trên.

05/11/2026
Trả lời:

Khoản 3 Điều 33 văn bản số 48/2026/VBHN-NĐ-BTC ngày 08/10/2026 của Bộ Tài chính quy định cơ chế quản lý tài chính dự án đầu tư theo phương thức đối tác công tư và cơ chế thanh toán, quyết toán đối với dự án áp dụng loại hợp đồng BT quy định: "Nhà nước thanh toán cho doanh nghiệp dự án BT, nhà đầu tư sau khi dự án BT hoặc hạng mục công trình, công trình xây dựng thuộc dự án BT vận hành độc lập được cơ quan ký kết hợp đồng BT cấp xác nhận hoàn thành theo quy định của pháp luật xây dựng hoặc pháp luật khác có liên quan theo quy định và đã được kiểm toán giá trị dự án BT hoàn thành, hạng mục công trình, công trình xây dựng thuộc dự án BT vận hành độc lập hoàn thành".

Theo đó, cụm từ “hạng mục công trình, công trình xây dựng thuộc dự án BT vận hành độc lập được cơ quan ký kết hợp đồng BT cấp xác nhận hoàn thành” được hiểu là hạng mục công trình hoặc công trình xây dựng thuộc dự án BT và hạng mục công trình hoặc công trình xây dựng này có khả năng vận hành độc lập (tương tự như cách hiểu tại phương án 1 của Quý độc giả).

Trên đây là ý kiến của Bộ Tài chính để Quý độc giả nghiên cứu, tham khảo./.

 

Gửi phản hồi: