THỨ SÁU 25/7/2025 11:18
Hỏi:
Qua nghiên cúu quy định pháp luật, tôi có một vài nội dung thắc mắc, kính đề nghị Bộ Tài chính trả lời: 1/ Đề nghị Bộ Tài chính giải thích về những cơ quan nhà nước được khoán chi phí hoạt động bao gồm những cơ quan nào theo quy định của Nghị định 120/2016/NĐ-CP, nêu ví dụ cụ thể 2/ Tôi hỏi về giai đoạn năm 2024, 2025, theo quy định tại khoản 2, Điều 7 Thông tư số 47/2019/TT-BTC ngày 05 tháng 8 năm 2019 của Bộ Tài chính quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí cung cấp thông tin doanh nghiệp, lệ phí đăng ký doanh nghiệp: “2. Đối với tổ chức thu phí là Sở Kế hoạch và Đầu tư: a) Tổ chức thu phí chuyển 70% số tiền phí cung cấp thông tin doanh nghiệp thu được vào tài khoản của Trung tâm Hỗ trợ nghiệp vụ đăng ký kinh doanh. Việc trích chuyển được thực hiện hàng tháng. Số tiền còn lại 30% nộp vào ngân sách nhà nước theo chương, tiểu mục tương ứng của Mục lục ngân sách hiện hành. Nguồn chi phí trang trải cho việc thực hiện công việc và thu phí do ngân sách nhà nước bố trí trong dự toán của tổ chức thu theo chế độ, định mức chi ngân sách nhà nước. b)Trường hợp tổ chức thu phí là cơ quan nhà nước được khoán chi phí hoạt động từ nguồn thu phí theo quy định tại khoản 1 Điều 4 Nghị định số 120/2016/NĐ-CP ngày 23 tháng 8 năm 2016 của Chính phủ thì chuyển 70% số tiền phí cung cấp thông tin doanh nghiệp thu được vào tài khoản của Trung tâm Hỗ trợ nghiệp vụ đăng ký kinh doanh. Việc trích chuyển được thực hiện hàng tháng. Số tiền còn lại 30% được sử dụng để trang trải cho việc thu phí theo quy định tại Điều 5 Nghị định số 120/2016/NĐ-CP ngày 23 tháng 8 năm 2016 của Chính phủ” Như vậy nếu thực hiện theo Thông tư này thì Sở Kế hoạch và Đầu tư có phải là cơ quan nhà nước được khoán chi phí hoạt động từ nguồn thu phí hay không? Nếu Sở Kế hoạch và Đầu tư đã được giao dự toán cho công tác thu phí, lệ phí thì có được giữ lại 30% phí cung cấp thông tin doanh nghiệp hay không? Qua tham khảo một số Sở Kế hoạch đầu tư (cũ), các đơn vị lại hiểu theo cách khác nhau, có đơn vị áp dụng theo điểm a khoản 2 Điều 7 là nộp vào ngân sách nhà nước số tiền còn lại 30% (sau khi đã chuyển 70% cho Trung tâm). Có đơn vị lại áp dụng theo điểm b khoản 2 Điều 7, giữ số tiền còn lại 30% để sử dụng để trang trải cho việc thu phí, không nộp ngân sách nhà nước. Kính đề nghị Bộ Tài chính giải đáp thắc mắc cho tôi
23/10/2026
Trả lời:

Trả lời câu hỏi của Bà Nguyễn Quỳnh Hương về phí cung cấp thông tin doanh nghiệp, Vụ Chính sách thuế, phí và lệ phí có ý kiến như sau:

1. Trong giai đoạn 2024, 2025 (câu hỏi của độc giả)

- Tại khoản 1 Điều 4 Nghị định số 120/2016/NĐ-CP ngày 23/8/2016 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phí và lệ phí quy định:

“1. Phí thu từ các hoạt động dịch vụ do cơ quan nhà nước thực hiện phải nộp vào ngân sách nhà nước, trường hợp cơ quan nhà nước được khoán chi phí hoạt động từ nguồn thu phí thì được khấu trừ theo tỷ lệ xác định quy định tại Điều 5 Nghị định này; phần còn lại (nếu có) nộp ngân sách nhà nước.

Cơ quan nhà nước được khoán chi phí hoạt động bao gồm:

a) Cơ quan thực hiện cơ chế tài chính theo quy định của Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ về cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong việc sử dụng biên chế và sử dụng kinh phí quản lý hành chính đối với các cơ quan nhà nước.

b) Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài.

c) Cơ quan công an, quốc phòng được giao cung cấp dịch vụ, phục vụ công việc quản lý nhà nước được thu phí theo quy định của Luật phí và lệ phí.”

- Tại khoản 3 Điều 1 Nghị định số 82/2023/NĐ-CP ngày 28/11/2023 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 120/2016/NĐ-CP ngày 23/8/2016 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phí và lệ phí quy định:

“3. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 và khoản 3 Điều 4 như sau:

“1. Phí thu từ các hoạt động dịch vụ do cơ quan nhà nước thực hiện phải nộp vào ngân sách nhà nước, trường hợp cơ quan nhà nước được khoán chi phí hoạt động từ nguồn thu phí thì được khấu trừ theo tỷ lệ xác định quy định tại Điều 5 Nghị định này; phần còn lại (nếu có) nộp ngân sách nhà nước.

Cơ quan nhà nước được khoán chi phí hoạt động từ nguồn thu phí bao gồm:

a) Cơ quan nhà nước thực hiện cơ chế tài chính theo quy định tại Nghị định số 130/2005/NĐ-CP ngày 17 tháng 10 năm 2005 của Chính phủ quy định chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với các cơ quan nhà nước, Nghị định số 117/2013/NĐ-CP ngày 07 tháng 10 năm 2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 130/2005/NĐ-CP ngày 17 tháng 10 năm 2005 của Chính phủ quy định chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với các cơ quan nhà nước và cơ quan nhà nước thực hiện cơ chế tài chính, thu nhập đặc thù theo quy định của Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ.

b) Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài.

c) Cơ quan công an, quốc phòng được giao cung cấp dịch vụ, phục vụ công việc quản lý nhà nước được thu phí theo quy định của Luật Phí và lệ phí”.”

- Tại điểm a, điểm b khoản 2 Điều 7 Thông tư số 47/2019/TT-BTC ngày 05/8/2019 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí cung cấp thông tin doanh nghiệp, lệ phí đăng ký doanh nghiệp quy định:

“2. Đối với tổ chức thu phí là Sở Kế hoạch và Đầu tư:

a) Tổ chức thu phí chuyển 70% số tiền phí cung cấp thông tin doanh nghiệp thu được vào tài khoản của Trung tâm Hỗ trợ nghiệp vụ đăng ký kinh doanh. Việc trích chuyển được thực hiện hàng tháng. Số tiền còn lại 30% nộp vào ngân sách nhà nước theo chương, tiểu mục tương ứng của Mục lục ngân sách hiện hành. Nguồn chi phí trang trải cho việc thực hiện công việc và thu phí do ngân sách nhà nước bố trí trong dự toán của tổ chức thu theo chế độ, định mức chi ngân sách nhà nước.

b) Trường hợp tổ chức thu phí là cơ quan nhà nước được khoán chi phí hoạt động từ nguồn thu phí theo quy định tại khoản 1 Điều 4 Nghị định số 120/2016/NĐ-CP ngày 23 tháng 8 năm 2016 của Chính phủ thì chuyển 70% số tiền phí cung cấp thông tin doanh nghiệp thu được vào tài khoản của Trung tâm Hỗ trợ nghiệp vụ đăng ký kinh doanh. Việc trích chuyển được thực hiện hàng tháng. Số tiền còn lại 30% được sử dụng để trang trải cho việc thu phí theo quy định tại Điều 5 Nghị định số 120/2016/NĐ-CPngày 23 tháng 8 năm 2016 của Chính phủ.”

Căn cứ các quy định nêu trên, đối với giai đoạn năm 2024, 2025, trường hợp Sở Kế hoạch và Đầu tư là cơ quan nhà nước được khoán chi phí hoạt động từ nguồn thu phí theo quy định tại khoản 3 Điều 1 Nghị định số 82/2023/NĐ-CP thì thực hiện quản lý phí theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 7 Thông tư số 47/2019/TT-BTC. Trường hợp Sở Kế hoạch và Đầu tư là cơ quan nhà nước được ngân sách nhà nước bố trí nguồn chi phí trang trải cho việc thực hiện công việc thu phí trong dự toán của tổ chức thì thực hiện quản lý phí theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 7 Thông tư số 47/2019/TT-BTC.

2. Kể từ ngày 01/01/2026 (Luật Phí và lệ phí được sửa đổi, bổ sung tại Luật Ngân sách nhà nước số 89/2025/QH15 có hiệu lực thi hành)

Tại khoản 3 Điều 76 Luật Ngân sách nhà nước số 89/2025/QH15 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026) quy định:

“3. Sửa đổi, bổ sung Luật Phí và lệ phí số 97/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 09/2017/QH14, Luật số 23/2018/QH14, Luật số 72/2020/QH14, Luật số 16/2023/QH15, Luật số 20/2023/QH15, Luật số 24/2023/QH15, Luật số 33/2024/QH15, Luật số 35/2024/QH15, Luật số 47/2024/QH15, Luật số 60/2024/QH15 và Luật Việc làm như sau: Khoản 1 Điều 12 bỏ cụm từ: “trường hợp cơ quan nhà nước được khoán chi phí hoạt động từ nguồn thu phí thì được khấu trừ, phần còn lại nộp ngân sách nhà nước.”

Ngày 31/12/2025, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 362/2025/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Phí và lệ phí thay thế Nghị định số 120/2016/NĐ-CP, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.

Tại khoản 1 Điều 4 Nghị định số 362/2025/NĐ-CP quy định:

“1. Phí thu từ các hoạt động dịch vụ do tổ chức thu phí là cơ quan nhà nước quy định tại điểm a, điểm c khoản 2 Điều 2 Nghị định này thực hiện được nộp toàn bộ vào ngân sách nhà nước.

 Trường hợp Nghị định này và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác nhau về việc quản lý và sử dụng phí thì áp dụng theo quy định của điều ước quốc tế.”

Kể từ ngày Nghị định số 362/2025/NĐ-CP có hiệu lực, trường hợp cơ quan có thầm quyền chưa kịp sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật quy định thu phí, lệ phí thì việc khai, thu, nộp, quản lý và sử dụng phí, lệ phí được thực hiện theo quy định tại Nghị định số 362/2025/NĐ-CP.

Vụ Chính sách thuế, phí và lệ phí trả lời để Bà Nguyễn Quỳnh Hương được biết./.

Gửi phản hồi: